GIÁO LÝ ĐẠI TOÀN THIỆN – ATIYOGA

 

GIÁO LÝ ĐI TOÀN THIN – ATIYOGA VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN TRAO TRUYỀN

Một Con Đường Thênh Thang Tới Tự Do

Những Hướng Dẫn Thực Hành Về Sự Hợp Nhất Của Đại Ấn Và Đại Toàn Thiện”

Karma Chagmé Với Bình Giảng Của Gyattrul Rinpoche

-------o0o-------

Đức Sri Sinha đã giải nghĩa [những giáo lý Đại Toàn Thiện] cho Đức Liên Hoa Sanh, học giả Gyalwa Yeshe Do, và Đức Vimalamitra. Đức Vimalamitra đi đến Tây Tạng và truyền những giáo lý này tới Đức Nyang Ting-nge-dzin Zangpo, Đức Vairocana, và vân vân. Các Giáo Huấn Cốt Tủy Của Vimalamitra và Mặt nạ Của Đức Vairocana và vân vân bao gồm các văn bản Đại Toàn Thiện
GIÁO LÝ ĐẠI TOÀN THIỆN - Một Con Đường Thênh Thang Tới Tự Do - Karma Chagmé

Kính l Đc Quán Thế Âm!

 

Đây là nhng hướng dn thc hành sâu sc ca Đc Quán Thế Âm, nhng nguyên tc khai m cp mt ca trí hu bn nguyên bng quan sát trc quan. Nhng hướng dn Đi Toàn Thin, Tnh Quang v Nhy qua (Leap-over) có mt kết ni sâu đm vi các hướng dn chính yếu ca Đc Quán Thế Âm. Đc Vua Songtsen Gampo nói, "Pháp này ca Đc Quán Thế Âm cũng là Đi Toàn Thin," và Ngài tho lun v đim này trong mt thi gian dài. Rng M Trong Sáng khng đnh, "Nhng câu chuyn được k vì lòng tin." Nhng điu này được ging dy phù hp vi các dòng truyn tha có ngun gc t Đc Ph Hin Như Lai vinh quang. Tantra S Hp nht Ca Mt Tri Và Mt Trăng viết:

 

Nhng câu chuyn cn phi được gii thích. Nếu ý nghĩa ca nhng câu chuyn không được gii thích, s có nhng vn đ hoài nghi trong nhng giáo lý này, mà trong đó chc chn có nhng bí n vĩ đi.

 

Đ gây dng lòng tin, đ nhn được nhng phước lành, và đ mang li s xác quyết, nhng phm cht vĩ đi ca dòng truyn tha cn được gii thích.

 

Sơ thu, khi không có s khác bit gia Đc Pht và chúng sanh hu tình, Đc Ph Hin Như Lai vinh quang là mt v Pht chưa tng tri nghio tưởng. Cho đến lúc đó, chưa tng có v Pht nào khác, vì vy Ngài được gi là Đc Pht Nguyên Thu, và đây là v sơ t ca tt c chư Pht. Bi vì chúng sanh hu tình không biết bn tánh ca chính mình, h lang thang trong sanh t luân hi. Đc Ph Hin Như Lai, sau đó, sanh khi t trng thái trng không ca Pháp thân trong nhng hin thân như:

 

[1] Vajradhara - Đc Pht Kim Cương Trì

[2] Acintyaprabhasa - Bt Tư Ngh Quang

[3] Akopyabhasa

[4] Đng khai m tàng kinh Bhayatrana

[5] Đng khai m tàng kinh

[6] Đng khai m tàng kinh Vajradhara

[7]Đng khai m tàng kinh Kumaravirabhalin

[8]Đng khai m tàng kinh Rsi Krodhara

[9]Đng khai m tàng kinh Suvarnabhasottama

[10] Đng khai m tàng kinh Krpakridabuddhi

[11] Đng khai m tàng kinh tin bi Kasyapa

[12] Đng khai m tàng kinh Samyaksamraja

[13] Đng khai m tàng kinh Sakyamunis

 

Mười hai đng khai m tàng kinh đã xut hin và truyn dy 64.000 b Atiyoga tantra - Nhng Tantra Đi Toàn Thin. Chúng được Đc Kim Cương Tát Đa truyn dy cho Đc Garab Dorje x Orgyen, người đã thu đt ý nghĩa và viết chúng ra. Đc Garab Dorje gii thích nhng giáo lý này đến các v Vidyadhara -Trì Minh Vương ca Trung Hoa là Sri Sinha, và nhng v Trì Minh Vương cn Đ là Manjusrimitra và Manavaka, điu này đã dn đến s tôn vinh ba truyn thng Đi Toàn Thin, trong đó có truyn thng Manavaka.

 

- Khi lên tám tuổi, Đức Garab Dorje thọ nhận những giáo lý này trong một cuộc gặp gỡ trong tâm với Đức Kim Cương Tát Đỏa. Sau khi thọ nhận những giáo lý này, Ngài nói với đức vua rằng Ngài muốn biện luận với năm trăm vị học giả. Một cơn chấn động xảy ra sau đó vì độ tuổi của Ngài còn trẻ, nhưng cuối cùng, cuộc biện luận đã diễn ra, và Ngài đã đánh bại những đối thủ của mình. Các học giả đã ca ngợi thành tựu của Ngài, tuyên bố rằng: "Đức Phật đã trở lại." Đó là thời điểm mà Ngài được đặt tên là Garab Dorje. "Garab" có nghĩa là hạnh phúc tuyệt vời, đó là chính xác những gì mà vị thần đồng trẻ tuổi này mang đến cho tất cả mọi người.

 

Trì Minh Vương của Trung Hoa - Sri Sinha  đã thọ nhận những giáo lý từ Đức Garab Dorje. Ngài đã được Đức Quán Thế Âm tiên tri ở Trung Hoa, Đức Quán Thế Âm đã nói về Ngài như một nhân vật vĩ đại, người thường xuyên đi bộ một cubit (khoảng 45cm) trên mặt đất. Rời khỏi Trung Hoa, Ngài đã đi đến Ấn Độ, và đã thọ nhận được những giáo lý Đại Toàn Thiện đầy đủ. Văn bản này nói rằng Ngài đã thọ nhận những giáo lý về Đại Toàn Thiện từ Đức Garab Dorje, nhưng trong những văn bản khác, người ta nói rằng Ngài thọ nhận chúng từ Đạo sư Manjusrimitra (Văn Thù Hữu). Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng Ngài đã thọ nhận những giáo lý Đại Toàn Thiện từ cả hai bậc thầy này. Cuối cùng, Ngài trở về Trung Hoa và đưa 700.000 học trò đến giác ngộ. Một câu chuyện chi tiết hơn về cuộc đời Ngài được tìm thấy trong tiểu sử của Đức Liên Hoa Sanh và trong Truyền Thống Phật giáo Tây Tạng Nyingma do Đức Dudjom Rinpoche viết ra. 

 

Đc Sri Sinha đã gii nghĩa [nhng giáo lý Đi Toàn Thin] cho Đc Liên Hoa Sanh, hc gi Gyalwa Yeshe Do, và Đc Vimalamitra. Đc Vimalamitra đi đến Tây Tng và truyn nhng giáo lý này ti Đc Nyang Ting-nge-dzin Zangpo, Đc Vairocana, và vân vân. Các Giáo Hun Ct Ty Ca Vimalamitra và Mt n CaĐc Vairocana và vân vân bao gm các văn bn Đi Toàn Thin[1]. Orgyen n dưới dng kho tàng vô s tác phm nhưNhng Giáo Hun Ct Ty Ca Các Dakini, Các Giáo Hun Ct Ty V S M Rng Rõ ràng, Các Giáo Hun Ct Ty ca Đc Kim Cang Tát Đa,

       [1] Điều này muốn nói đến truyền thống Kama (bka'ma) của Đại Toàn Thiện

 

Cái Thy Ca S M Rng Bao La[1], và Thin Không Ngăn Ngi[1] Cho đến nay, đã xut hin hơn hai trăm năm mươi v Khai m tàng kinh, và Đi Toàn Thin được bao gm trong mi kho tàng[3].

 

Nói chung, người ta nói có 64.000 b Tantra Đi Toàn Thin, nhưng hu hết vn là kho báu n. Mt s đã được công b trong các vùng đt ca con người. Mười by Tantra Đi Toàn Thin, mười btantra đa con trai nhTantra V S M Rng Rõ Ràng Sáng Chói Ca Các Dakini, mười by giáo lý tâm v người m và người con, bkinh nhng phô din như huyn thut, và vân vân được gi là các kinhTantra, và [nhng giáo lý v] tâm.

 

Nói chung, Đi Toàn Thin vĩ đi này, trong đó có Máu Trong Tim Ca Các Dakini[4] và Pháp Hướng Dn Thc Hành[5], là đnh cao ca chín tha. Bi s hin din ca các đng bo h ca các giáo lý, chng hn như Mamo, Za, và Damchen, truyn dy rng rãi nhng giáo lý này là không thích hp. Chúng ch được truyn dy riêng đến tng hc trò, nếu không, s có nhng nguy him ln. Trong s nhng kho báu ca Karma Lingpa, có các Pháp ph biến, bao gĐc Quán Thế Âm An Bình Và Phn N và KhiHin T Nhiên Ca An Bình Và Phn N T Tánh Giác Giác Ng. Trong sSáu Tiến Trình Chuyn Hoá, có S Gii Thoát T Nhiên Ca Tánh Giác ThcS Nhn Din Ca Sáu Ngn Đèn, và Gii Thoát T Nhiên Ca Cái Thy: Vic Nhn Din Các Tiến Trình Chuyn Hóa T Nhiên Ca Bn Thân Thc Ti[6].

 

Trong s ba mươi hai gii thiu, cái th năm, Gii Thiu V Các Tia Sáng Ca Mt Tri Và Mt Trăng, gii thiu các cõi tnh đ ca ba hin thân. Điu đó cn được truyn dy, bi vì đó là mt Pháp vì li ích ca chúng sanh hu tình, vic truyn dy pháp này như mt Pháp ph thông là thích hp. Nhưng đi vi mt giáo lý như vy, điu cn thiết đu tiên là được th nhn mt quán đnh có liên quan đến Đi Toàn Thin. Nếu chưa được th nhn, thì không thích hp đ thm chí ch là lng nghe nhng giáo lý, ch chưa nói đến thc hành chúng mà không có mt quán đnh Mt Chú tha như vy. Như đã nói:           

 

Làm thế nào mt người lái đò không có mái chèo có th đi qua sông? Mt khi mt người đã nhn được quán đnh, toàn b Mt Chú [tha] có th được thành tu.

 

- Ở Tây Tạng, một chiếc thuyền làm bằng da trâu yak thường được sử dụng để vượt qua một con sông hoặc hồ nước lớn. Thực hành Đại Toàn Thiện không có quán đảnh được cho là giống như băng qua hồ nước trong một chiếc thuyền không có mái chèo. Không chỉ người ta phải thọ nhận quán đảnh và giáo lý, mà người ta cũng phải giữ gìn những giới luật, hoặc cam kết mật.
 

[1] The View of the Vast Expanse

[2] The Unimpeded Contemplation

[3] Điu này mun nói đến truyn thng Terma (gter ma) ca Đi Toàn Thin 

[4] The Heart Blood of the Dakinis

[5] The Dharma of Practical Instruction

[6] Nhng giáo lý ca Đc Liên Hoa sanh v sáu tiến trình chuyn hoá được Karma Lingpa khai m, được dch cùng vi bình ging ca Gyatrul Rinpoche trong Natural Liberation: Padmasambhava's teaching on the Six Bardos, ca Gyatrul Rinpoche, do B Alan Wallace dch sang tiếng Anh.

Và:

Truyn dy Tantra cho nhng người chưa th nhn các quán đnh, và nhn lãnh mt gánh nng mà không quan tâm ti trng lượng ca nó đu là nhng nguyên nhân dn đến tht bi.

 

- Nếu bạn chất đồ lên một con trâu yak mà không chú ý đến trọng tải, cuối cùng, chú trâu sẽ quỵ xuống và chết. Tương tự, nếu bạn truyền dạy tantra cho những người chưa thọ giữ các quán đảnh, bạn đã gieo nhân cho sự tái sanh vào các cõi thấp trong vô lượng kiếp mà không có bất kỳ cơ hội nào để giải thoát. Ngày nay, những truyền thống Geluk, Sakya, và Kagyu có khuynh hướng không truyền dạy Đại Toàn Thiện. Lý do cho điều này là vì họ cho rằng không thích hợp để truyền giảng những giáo lý cao cấp trong khi không có một nền tảng phù hợp. Tuy nhiên, các Lạt ma của dòng Nyingma, căn chứ theo những lời tiên tri của Đức Liên Hoa Sanh, có một cách tiếp cận khác. Đức Liên Hoa Sanh đã tiên tri rằng khi Pháp suy yếu, chúng sanh sẽ là những cái bình phù hợp để tiếp nhận giáo lý Đại Toàn Thiện. Điều này ngụ ý rằng những giáo lý có thể được ban tặng theo cách càng ngày càng không bị gò bó. Có một lần, Thánh Đức Dudjom Rinpoche nhận xét rằng: Ngài nghĩ rằng giáo lý Đại Toàn Thiện được trao truyền khá cởi mở vào lúc này là điều khá phù hợp và đặc biệt là tới người phương Tây. Tương tự như vậy, sau khi được thọ giữ những giáo lý Đại Toàn Thiện rất sâu rộng, Yangthang Rinpoche đã được vị thầy tâm linh của chính của Ngài dặn rằng Ngài cần phải truyền dạy những giáo lý này một cách tương đối tự do và không có bất kỳ hạn chế nào. Hơn thế nữa, Ngài đã được dặn rằng nếu có những người đặc biệt - như là những người phương Tây - thỉnh cầu những giáo lý này, Ngài nên cố gắng truyền dạy cho họ vì họ là những cái bình phù hợp. Khi nghe điều này, nếu bạn phản ứng bằng suy nghĩ rằng bạn rất đặc biệt, bạn chỉ đang đặt nền tảng cho việc tái sanh vào một cõi thấp hơn.

 

Nhng ai đã được ban quán đnh có liên quan ti Đi Toàn Thin đu đã được cho phép. Thi đim được nhc đến trong Pháp Gii Trong Sáng[8]:

Tốt nhất là truyền dạy vào thời điểm thu phân và xuân phân.

 

Nhng thi đim tt nht là vào mùa thu và mùa xuân, khi bu tri là trong tro, nhưng nếu điu đó không kh thi, thì gii thiu nên được trao truyn ngay vào lúc bình minh hoc hoàng hôn.

Ti đây, nhng thc hành sơ b chun b cho nhng thc hành chính yếu s được gii thích. Tantra Căn Bn V S Thu Sut Ca Âm Thanh khng đnh:

 

Hãy thc tp nhng thc hành sơ b. Hãy gii thích làm thế nào đ phân bit gia sanh t và niết bàn v mt thân, ng, và tâm. Nếu s phân bit gia sanh t và niết bàn không được to lp, con s không th ct đt mi liên h gia sanh t và niết bàn v mt thân, ng, và tâm. Vì vy, hãy phân bit gia sanh t và niết bàn.

 

[8] the Clear Expanse

 

- Do nhầm lẫn, chúng ta cảm thấy khó phân biệt giữa sanh tử và niết bàn. Do tham luyến và bám chấp, chúng ta nắm bắt các đối tượng ham muốn của mình như thể chúng là thanh tịnh. Do đó, chúng ta hưởng ứng sanh tử luân hồi như thể nó là một cõi tịnh độ. Tương tự như vậy, khi thực hành giai đoạn sanh khởi, bao gồm việc trưởng dưỡng lòng kiêu hãnh thiêng liêng, nhiều người ngay lập tức bám chấp vào bản sắc cá nhân của họ và bám nắm vào bản sắc có thật của các hiện tượng. Đây là nguồn gốc cho sự nhầm lẫn hơn nữa. Tại sao một số người đã được thọ giữ rất nhiều quán đảnh và khẩu truyền mà vẫn không tìm thấy nhiều lợi ích? Điều này hoàn toàn là do bởi vì họ không hiểu biết và nghiền ngẫm về Bốn Chuyển Tâm. Nếu bạn thiền quán về Bốn Chuyển Tâm, đức tin sẽ sanh khởi, sợ hãi sẽ sanh khởi, từ bi cũng sẽ sanh khởi, và do đó, ý chí kiên nhẫn và nhiệt tình cũng sẽ sanh khởi. Khi bạn xây dựng một nền tảng thông qua Bốn Chuyển Tâm, bạn đặt nền tảng cho năm cái đầu tiên của Sáu Ba La Mật. Nếu không có nền tảng này, Ba La Mật thứ sáu, trí huệ, không thể sanh khởi. Do đó, Bốn Chuyển Tâm là không thể thiếu.

 

-------o0o-------

Trích “Một Con Đường Thênh Thang Tới Tự Do

Những hướng dẫn thực hành về sự hợp nhất của Đại Ấn và Đại Toàn Thiện”

Tác giả: Karma Chagmé với bình

GIÁO LÝ ĐI TOÀN THIN – ATIYOGA VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN TRAO TRUYỀN

Một Con Đường Thênh Thang Tới Tự Do

Những Hướng Dẫn Thực Hành Về Sự Hợp Nhất Của Đại Ấn Và Đại Toàn Thiện”

Karma Chagmé Với Bình Giảng Của Gyattrul Rinpoche

-------o0o-------

Đức Sri Sinha đã giải nghĩa [những giáo lý Đại Toàn Thiện] cho Đức Liên Hoa Sanh, học giả Gyalwa Yeshe Do, và Đức Vimalamitra. Đức Vimalamitra đi đến Tây Tạng và truyền những giáo lý này tới Đức Nyang Ting-nge-dzin Zangpo, Đức Vairocana, và vân vân. Các Giáo Huấn Cốt Tủy Của Vimalamitra và Mặt nạ Của Đức Vairocana và vân vân bao gồm các văn bản Đại Toàn Thiện
GIÁO LÝ ĐẠI TOÀN THIỆN - Một Con Đường Thênh Thang Tới Tự Do - Karma Chagmé

Kính l Đc Quán Thế Âm!

 

Đây là nhng hướng dn thc hành sâu sc ca Đc Quán Thế Âm, nhng nguyên tc khai m cp mt ca trí hu bn nguyên bng quan sát trc quan. Nhng hướng dn Đi Toàn Thin, Tnh Quang v Nhy qua (Leap-over) có mt kết ni sâu đm vi các hướng dn chính yếu ca Đc Quán Thế Âm. Đc Vua Songtsen Gampo nói, "Pháp này ca Đc Quán Thế Âm cũng là Đi Toàn Thin," và Ngài tho lun v đim này trong mt thi gian dài. Rng M Trong Sáng khng đnh, "Nhng câu chuyn được k vì lòng tin." Nhng điu này được ging dy phù hp vi các dòng truyn tha có ngun gc t Đc Ph Hin Như Lai vinh quang. Tantra S Hp nht Ca Mt Tri Và Mt Trăng viết:

 

Nhng câu chuyn cn phi được gii thích. Nếu ý nghĩa ca nhng câu chuyn không được gii thích, s có nhng vn đ hoài nghi trong nhng giáo lý này, mà trong đó chc chn có nhng bí n vĩ đi.

 

Đ gây dng lòng tin, đ nhn được nhng phước lành, và đ mang li s xác quyết, nhng phm cht vĩ đi ca dòng truyn tha cn được gii thích.

 

Sơ thu, khi không có s khác bit gia Đc Pht và chúng sanh hu tình, Đc Ph Hin Như Lai vinh quang là mt v Pht chưa tng tri nghio tưởng. Cho đến lúc đó, chưa tng có v Pht nào khác, vì vy Ngài được gi là Đc Pht Nguyên Thu, và đây là v sơ t ca tt c chư Pht. Bi vì chúng sanh hu tình không biết bn tánh ca chính mình, h lang thang trong sanh t luân hi. Đc Ph Hin Như Lai, sau đó, sanh khi t trng thái trng không ca Pháp thân trong nhng hin thân như:

 

[1] Vajradhara - Đc Pht Kim Cương Trì

[2] Acintyaprabhasa - Bt Tư Ngh Quang

[3] Akopyabhasa

[4] Đng khai m tàng kinh Bhayatrana

[5] Đng khai m tàng kinh

[6] Đng khai m tàng kinh Vajradhara

[7]Đng khai m tàng kinh Kumaravirabhalin

[8]Đng khai m tàng kinh Rsi Krodhara

[9]Đng khai m tàng kinh Suvarnabhasottama

[10] Đng khai m tàng kinh Krpakridabuddhi

[11] Đng khai m tàng kinh tin bi Kasyapa

[12] Đng khai m tàng kinh Samyaksamraja

[13] Đng khai m tàng kinh Sakyamunis

 

Mười hai đng khai m tàng kinh đã xut hin và truyn dy 64.000 b Atiyoga tantra - Nhng Tantra Đi Toàn Thin. Chúng được Đc Kim Cương Tát Đa truyn dy cho Đc Garab Dorje x Orgyen, người đã thu đt ý nghĩa và viết chúng ra. Đc Garab Dorje gii thích nhng giáo lý này đến các v Vidyadhara -Trì Minh Vương ca Trung Hoa là Sri Sinha, và nhng v Trì Minh Vương cn Đ là Manjusrimitra và Manavaka, điu này đã dn đến s tôn vinh ba truyn thng Đi Toàn Thin, trong đó có truyn thng Manavaka.

 

- Khi lên tám tuổi, Đức Garab Dorje thọ nhận những giáo lý này trong một cuộc gặp gỡ trong tâm với Đức Kim Cương Tát Đỏa. Sau khi thọ nhận những giáo lý này, Ngài nói với đức vua rằng Ngài muốn biện luận với năm trăm vị học giả. Một cơn chấn động xảy ra sau đó vì độ tuổi của Ngài còn trẻ, nhưng cuối cùng, cuộc biện luận đã diễn ra, và Ngài đã đánh bại những đối thủ của mình. Các học giả đã ca ngợi thành tựu của Ngài, tuyên bố rằng: "Đức Phật đã trở lại." Đó là thời điểm mà Ngài được đặt tên là Garab Dorje. "Garab" có nghĩa là hạnh phúc tuyệt vời, đó là chính xác những gì mà vị thần đồng trẻ tuổi này mang đến cho tất cả mọi người.

 

Trì Minh Vương của Trung Hoa - Sri Sinha  đã thọ nhận những giáo lý từ Đức Garab Dorje. Ngài đã được Đức Quán Thế Âm tiên tri ở Trung Hoa, Đức Quán Thế Âm đã nói về Ngài như một nhân vật vĩ đại, người thường xuyên đi bộ một cubit (khoảng 45cm) trên mặt đất. Rời khỏi Trung Hoa, Ngài đã đi đến Ấn Độ, và đã thọ nhận được những giáo lý Đại Toàn Thiện đầy đủ. Văn bản này nói rằng Ngài đã thọ nhận những giáo lý về Đại Toàn Thiện từ Đức Garab Dorje, nhưng trong những văn bản khác, người ta nói rằng Ngài thọ nhận chúng từ Đạo sư Manjusrimitra (Văn Thù Hữu). Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng Ngài đã thọ nhận những giáo lý Đại Toàn Thiện từ cả hai bậc thầy này. Cuối cùng, Ngài trở về Trung Hoa và đưa 700.000 học trò đến giác ngộ. Một câu chuyện chi tiết hơn về cuộc đời Ngài được tìm thấy trong tiểu sử của Đức Liên Hoa Sanh và trong Truyền Thống Phật giáo Tây Tạng Nyingma do Đức Dudjom Rinpoche viết ra. 

 

Đc Sri Sinha đã gii nghĩa [nhng giáo lý Đi Toàn Thin] cho Đc Liên Hoa Sanh, hc gi Gyalwa Yeshe Do, và Đc Vimalamitra. Đc Vimalamitra đi đến Tây Tng và truyn nhng giáo lý này ti Đc Nyang Ting-nge-dzin Zangpo, Đc Vairocana, và vân vân. Các Giáo Hun Ct Ty Ca Vimalamitra và Mt n CaĐc Vairocana và vân vân bao gm các văn bn Đi Toàn Thin[1]. Orgyen n dưới dng kho tàng vô s tác phm nhưNhng Giáo Hun Ct Ty Ca Các Dakini, Các Giáo Hun Ct Ty V S M Rng Rõ ràng, Các Giáo Hun Ct Ty ca Đc Kim Cang Tát Đa,

       [1] Điều này muốn nói đến truyền thống Kama (bka'ma) của Đại Toàn Thiện

 

Cái Thy Ca S M Rng Bao La[1], và Thin Không Ngăn Ngi[1] Cho đến nay, đã xut hin hơn hai trăm năm mươi v Khai m tàng kinh, và Đi Toàn Thin được bao gm trong mi kho tàng[3].

 

Nói chung, người ta nói có 64.000 b Tantra Đi Toàn Thin, nhưng hu hết vn là kho báu n. Mt s đã được công b trong các vùng đt ca con người. Mười by Tantra Đi Toàn Thin, mười btantra đa con trai nhTantra V S M Rng Rõ Ràng Sáng Chói Ca Các Dakini, mười by giáo lý tâm v người m và người con, bkinh nhng phô din như huyn thut, và vân vân được gi là các kinhTantra, và [nhng giáo lý v] tâm.

 

Nói chung, Đi Toàn Thin vĩ đi này, trong đó có Máu Trong Tim Ca Các Dakini[4] và Pháp Hướng Dn Thc Hành[5], là đnh cao ca chín tha. Bi s hin din ca các đng bo h ca các giáo lý, chng hn như Mamo, Za, và Damchen, truyn dy rng rãi nhng giáo lý này là không thích hp. Chúng ch được truyn dy riêng đến tng hc trò, nếu không, s có nhng nguy him ln. Trong s nhng kho báu ca Karma Lingpa, có các Pháp ph biến, bao gĐc Quán Thế Âm An Bình Và Phn N và KhiHin T Nhiên Ca An Bình Và Phn N T Tánh Giác Giác Ng. Trong sSáu Tiến Trình Chuyn Hoá, có S Gii Thoát T Nhiên Ca Tánh Giác ThcS Nhn Din Ca Sáu Ngn Đèn, và Gii Thoát T Nhiên Ca Cái Thy: Vic Nhn Din Các Tiến Trình Chuyn Hóa T Nhiên Ca Bn Thân Thc Ti[6].

 

Trong s ba mươi hai gii thiu, cái th năm, Gii Thiu V Các Tia Sáng Ca Mt Tri Và Mt Trăng, gii thiu các cõi tnh đ ca ba hin thân. Điu đó cn được truyn dy, bi vì đó là mt Pháp vì li ích ca chúng sanh hu tình, vic truyn dy pháp này như mt Pháp ph thông là thích hp. Nhưng đi vi mt giáo lý như vy, điu cn thiết đu tiên là được th nhn mt quán đnh có liên quan đến Đi Toàn Thin. Nếu chưa được th nhn, thì không thích hp đ thm chí ch là lng nghe nhng giáo lý, ch chưa nói đến thc hành chúng mà không có mt quán đnh Mt Chú tha như vy. Như đã nói:           

 

Làm thế nào mt người lái đò không có mái chèo có th đi qua sông? Mt khi mt người đã nhn được quán đnh, toàn b Mt Chú [tha] có th được thành tu.

 

- Ở Tây Tạng, một chiếc thuyền làm bằng da trâu yak thường được sử dụng để vượt qua một con sông hoặc hồ nước lớn. Thực hành Đại Toàn Thiện không có quán đảnh được cho là giống như băng qua hồ nước trong một chiếc thuyền không có mái chèo. Không chỉ người ta phải thọ nhận quán đảnh và giáo lý, mà người ta cũng phải giữ gìn những giới luật, hoặc cam kết mật.
 

[1] The View of the Vast Expanse

[2] The Unimpeded Contemplation

[3] Điu này mun nói đến truyn thng Terma (gter ma) ca Đi Toàn Thin 

[4] The Heart Blood of the Dakinis

[5] The Dharma of Practical Instruction

[6] Nhng giáo lý ca Đc Liên Hoa sanh v sáu tiến trình chuyn hoá được Karma Lingpa khai m, được dch cùng vi bình ging ca Gyatrul Rinpoche trong Natural Liberation: Padmasambhava's teaching on the Six Bardos, ca Gyatrul Rinpoche, do B Alan Wallace dch sang tiếng Anh.

Và:

Truyn dy Tantra cho nhng người chưa th nhn các quán đnh, và nhn lãnh mt gánh nng mà không quan tâm ti trng lượng ca nó đu là nhng nguyên nhân dn đến tht bi.

 

- Nếu bạn chất đồ lên một con trâu yak mà không chú ý đến trọng tải, cuối cùng, chú trâu sẽ quỵ xuống và chết. Tương tự, nếu bạn truyền dạy tantra cho những người chưa thọ giữ các quán đảnh, bạn đã gieo nhân cho sự tái sanh vào các cõi thấp trong vô lượng kiếp mà không có bất kỳ cơ hội nào để giải thoát. Ngày nay, những truyền thống Geluk, Sakya, và Kagyu có khuynh hướng không truyền dạy Đại Toàn Thiện. Lý do cho điều này là vì họ cho rằng không thích hợp để truyền giảng những giáo lý cao cấp trong khi không có một nền tảng phù hợp. Tuy nhiên, các Lạt ma của dòng Nyingma, căn chứ theo những lời tiên tri của Đức Liên Hoa Sanh, có một cách tiếp cận khác. Đức Liên Hoa Sanh đã tiên tri rằng khi Pháp suy yếu, chúng sanh sẽ là những cái bình phù hợp để tiếp nhận giáo lý Đại Toàn Thiện. Điều này ngụ ý rằng những giáo lý có thể được ban tặng theo cách càng ngày càng không bị gò bó. Có một lần, Thánh Đức Dudjom Rinpoche nhận xét rằng: Ngài nghĩ rằng giáo lý Đại Toàn Thiện được trao truyền khá cởi mở vào lúc này là điều khá phù hợp và đặc biệt là tới người phương Tây. Tương tự như vậy, sau khi được thọ giữ những giáo lý Đại Toàn Thiện rất sâu rộng, Yangthang Rinpoche đã được vị thầy tâm linh của chính của Ngài dặn rằng Ngài cần phải truyền dạy những giáo lý này một cách tương đối tự do và không có bất kỳ hạn chế nào. Hơn thế nữa, Ngài đã được dặn rằng nếu có những người đặc biệt - như là những người phương Tây - thỉnh cầu những giáo lý này, Ngài nên cố gắng truyền dạy cho họ vì họ là những cái bình phù hợp. Khi nghe điều này, nếu bạn phản ứng bằng suy nghĩ rằng bạn rất đặc biệt, bạn chỉ đang đặt nền tảng cho việc tái sanh vào một cõi thấp hơn.

 

Nhng ai đã được ban quán đnh có liên quan ti Đi Toàn Thin đu đã được cho phép. Thi đim được nhc đến trong Pháp Gii Trong Sáng[8]:

Tốt nhất là truyền dạy vào thời điểm thu phân và xuân phân.

 

Nhng thi đim tt nht là vào mùa thu và mùa xuân, khi bu tri là trong tro, nhưng nếu điu đó không kh thi, thì gii thiu nên được trao truyn ngay vào lúc bình minh hoc hoàng hôn.

Ti đây, nhng thc hành sơ b chun b cho nhng thc hành chính yếu s được gii thích. Tantra Căn Bn V S Thu Sut Ca Âm Thanh khng đnh:

 

Hãy thc tp nhng thc hành sơ b. Hãy gii thích làm thế nào đ phân bit gia sanh t và niết bàn v mt thân, ng, và tâm. Nếu s phân bit gia sanh t và niết bàn không được to lp, con s không th ct đt mi liên h gia sanh t và niết bàn v mt thân, ng, và tâm. Vì vy, hãy phân bit gia sanh t và niết bàn.

 

[8] the Clear Expanse

 

- Do nhầm lẫn, chúng ta cảm thấy khó phân biệt giữa sanh tử và niết bàn. Do tham luyến và bám chấp, chúng ta nắm bắt các đối tượng ham muốn của mình như thể chúng là thanh tịnh. Do đó, chúng ta hưởng ứng sanh tử luân hồi như thể nó là một cõi tịnh độ. Tương tự như vậy, khi thực hành giai đoạn sanh khởi, bao gồm việc trưởng dưỡng lòng kiêu hãnh thiêng liêng, nhiều người ngay lập tức bám chấp vào bản sắc cá nhân của họ và bám nắm vào bản sắc có thật của các hiện tượng. Đây là nguồn gốc cho sự nhầm lẫn hơn nữa. Tại sao một số người đã được thọ giữ rất nhiều quán đảnh và khẩu truyền mà vẫn không tìm thấy nhiều lợi ích? Điều này hoàn toàn là do bởi vì họ không hiểu biết và nghiền ngẫm về Bốn Chuyển Tâm. Nếu bạn thiền quán về Bốn Chuyển Tâm, đức tin sẽ sanh khởi, sợ hãi sẽ sanh khởi, từ bi cũng sẽ sanh khởi, và do đó, ý chí kiên nhẫn và nhiệt tình cũng sẽ sanh khởi. Khi bạn xây dựng một nền tảng thông qua Bốn Chuyển Tâm, bạn đặt nền tảng cho năm cái đầu tiên của Sáu Ba La Mật. Nếu không có nền tảng này, Ba La Mật thứ sáu, trí huệ, không thể sanh khởi. Do đó, Bốn Chuyển Tâm là không thể thiếu.

 

-------o0o-------

Trích “Một Con Đường Thênh Thang Tới Tự Do

Những hướng dẫn thực hành vKIM CƯƠNG THỪA THỰC HÀNH

Thực hành thiền Đại toàn thiện trong cuộc sống hằng ngày chỉ đơn giản là phát triển một sự chấp nhận hoàn toàn và thảnh thơi, một sự rộng mở không giới hạn trước mọi hoàn cảnh.

Chúng ta nên nhận ra sự rộng mở này như là một sân chơi của những cảm xúc của chúng ta và quan hệ với mọi người mà không có sự giả tạo, cố gắng điều khiển hay sắp đặt kế hoạch.

Chúng ta nên trải nghiệm mọi điều một cách toàn thể, không bao giờ rút lui vào trong bản thân chúng ta như một con chồn giấu mình trong hố của nó. Sự thực hành này giải phóng vô vàn năng lượng vốn thường bị bó hẹp lại bởi tiến trình cố gắng duy trì những điểm quy chiếu cố định. Sự liên hệ quy chiếu là quá trình chúng ta rút khỏi kinh nghiệm trực tiếp trong cuộc sống hằng ngày.

Có mặt trong thời khắc hiện tại có thể ban đầu gây ra sự sợ hãi. Tuy nhiên, bằng việc đón chào những cảm xúc sợ hãi cùng với toàn thể sự rộng mở, chúng ta vượt qua những chướng ngại được tạo nên bởi những khuôn mẫu cảm xúc theo thói quen.

Khi chúng ta dấn mình vào thực hành khám phá không gian, chúng ta nên phát triển cảm giác mở rộng hoàn toàn chính chúng ta tới toàn thể vũ trụ. Chúng ta nên mở rộng bản thân chúng ta bằng sự đơn giản và trần trụi tuyệt đối của tâm. Đó là cách thực hành mạnh mẽ và thường xuyên để gỡ bỏ mặt nạ của sự tự bảo vệ.

Trong sự tham thiền của mình, chúng ta không nên phân tách giữa nhận thức và đối tượng của sự nhận thức. Chúng ta không nên giống như con mèo đang rình chuột. Chúng ta nên nhận ra rằng mục tiêu của tham thiền chẳng phải “đi sâu vào bản thể” của chúng ta hay rút lui khỏi thế giới. Sự hành trì nên được tự do và phi khái niệm, không bị gò bó bởi sự tự quán tâm hay sự tập trung.

Không gian của trí tuệ bao la, không có khởi thủy và tự sáng tỏ này là nền tảng của hiện hữu – sự khởi đầu và sự kết thúc của mọi hỗn độn. Sự hiện diện của tính giác trong trạng thái nguyên thủy không thiên vị đối với giác ngộ hay không giác ngộ. Nền tảng của hiện hữu này, vốn được biết đến như tâm bổn nguyên hay thanh tịnh, là cội nguồn mà từ đó mọi hiện tượng xuất hiện. Nó được biết đến như là mẹ vĩ đại, như thai tạng của mọi tiềm năng mà trong đó, mọi thứ khởi sinh và tan biến trong trạng thái tự hoàn thiện và tuyệt đối tự nhiên.

Mọi khía cạnh của hiện tượng là hoàn toàn trong sáng và rõ ràng. Toàn thể vũ trụ là rộng mở không chướng ngại – mọi thứ thâm nhập lẫn nhau.

Nhìn mọi thứ trần trụi, rõ ràng và tự do khỏi những che ám, không có gì để đạt được hay chứng ngộ. Bản tính của hiện tượng xuất hiện một cách tự nhiên và thể hiện tự nhiên trong sự tính giác phi thời gian. Mọi thứ hoàn hảo như nó vốn là. Mọi hiện tượng xuất hiện trong sự duy nhất của chúng như là một phần của một nhịp điệu luôn thay đổi. Những nhịp điệu này sống động với ý nghĩa và tầm quan trọng tại mỗi thời khắc; tuy nhiên không có ý nghĩa gì nếu bám chấp vào những ý nghĩa đó ngoài thời khắc mà chúng thể hiện chính mình.

Đây là vũ điệu của năm đại mà trong đó vật chất là biểu hiện của năng lượng và năng lượng là biểu hiện của tính không. Chúng ta là biểu hiện cho sự giác ngộ của chính chúng ta. Bằng sự không cố gắng hay thực tập bất cứ điều gì, sự giải thoát hay giác ngộ đã có mặt ở đó rồi.

Hành trì thiền Đại toàn thiện mỗi ngày chỉ là bản thân cuộc sống mỗi ngày. Bởi trạng thái kém phát triển không tồn tại, do đó không cần thiết phải hành xử theo bất kỳ một cách đặc biệt nào hay cố gắng để đạt được bất kỳ điều gì ở trên hay ở dưới điều mà chúng ta đang là. Không nên có cảm giác phấn đấu để đạt tới một “mục tiêu tuyệt vời” hay một “trạng thái cao cấp” nào đó.

Cố phấn đấu đạt tới một trạng thái như vậy là một chứng loạn thần kinh, nó chỉ điều kiện hóa chúng ta và phục vụ cho việc làm chướng ngại dòng chảy tự do của Tâm. Chúng ta cũng nên tránh việc nghĩ về bản thân của chúng ta như những người không có giá trị – chúng ta vốn tự do và không điều kiện. Chúng ta về thực chất đã giác ngộ và chẳng thiếu điều gì.

Khi dấn mình vào tham thiền, chúng ta nên cảm thấy nó tự nhiên như ăn, thở và đi vệ sinh. Việc đó không nên trở thành một sự kiện đặc biệt hay theo nghi thức, bị thổi phồng lên bởi sự hệ trọng và trang nghiêm. Chúng ta nên hiểu rằng thiền vượt hơn khỏi nỗ lực, thực hành, mục đích, mục tiêu và tính nhị nguyên của giải thoát và không giải thoát. Thiền luôn lý tưởng; không cần thiết phải sửa chữa bất cứ điều gì. Bởi bất cứ điều gì khởi lên đơn thuần chỉ là trò chơi của tâm thức như vậy, không có thiền không đạt yêu cầu và không cần thiết phải đánh giá những niệm tưởng là tốt hay xấu.

Do đó, chúng ta nên đơn giản chỉ cần ngồi. Đơn giản là ở lại tại vị trí riêng của bạn, trong điều kiện riêng của bạn đúng như nó vốn là. Hãy quên những cảm xúc tự ý thức, chúng ta không cần phải nghĩ “tôi đang thiền đây.” Sự hành trì của chúng ta nên phi nỗ lực, không căng thẳng, không cần cố gắng để kiểm soát hay gượng ép và không cần cố gắng để trở nên “an lạc”.

Nếu chúng ta nhận ra rằng chúng ta đang làm phiền chính bản thân mình bằng bất kỳ cách nào trong những cách trên, chúng ta dừng thiền và đơn giản là nghỉ ngơi, thư giãn một lúc. Sau đó, chúng ta lại tiếp tục hành thiền. Nếu chúng ta có “những trải nghiệm thú vị” trong hay sau lúc hành thiền, chúng ta nên tránh làm chúng trở nên đặc biệt. Dành thời gian nghĩ về những kinh nghiệm chỉ đơn giản là một sự phân tâm và một sự cố gắng để trở nên mất tự nhiên. Những kinh nghiệm này đơn thuần là dấu hiệu của sự thực hành và nên được coi là những sự kiện thoáng qua. Chúng ta không nên cố gắng trải nghiệm lại chúng bởi như vậy chỉ làm sai lệch sự tự phát tự nhiên của tâm thức.

Mọi hiện tượng đều tươi mới một cách hoàn hảo, duy nhất tuyệt đối và hoàn toàn tự do khỏi tất cả những khái niệm về quá khứ, hiện tại và tương lai. Chúng được kinh nghiệm trong sự không có thời gian.

Dòng tương tục của sự khám phá mới, sự phát lộ và nguồn cảm hứng phát sinh tại mọi thời khắc chính là sự biểu hiện của sự sáng tỏ của chúng ta. Chúng ta nên học để thấy cuộc sống mỗi ngày như một mạn đà la – những viền tua sáng tỏ của kinh nghiệm, tỏa ra một cách tự nhiên từ bản tính rỗng không của bản thể chúng ta. Những khía cạnh của mạn đà la của chúng ta là các đối tượng hằng ngày trong kinh nghiệm sống của mình chuyển động trong điệu vũ hay trò chơi của vũ trụ. Bằng hình ảnh tượng trưng này, người thầy nội tại phát lộ ý nghĩa sâu sắc và tối hậu của bản thể. Do đó, chúng ta nên tự nhiên và không gò bó, chấp nhận và học từ mọi điều. Điều này cho phép chúng ta nhìn thấy mặt hài hước và mỉa mai của các sự kiện mà thông thường sẽ khiến chúng ta nổi cáu.

Trong thiền, chúng ta có thể nhìn xuyên qua những ảo tưởng về quá khứ, hiện tại và tương lai – kinh nghiệm của chúng ta trở thành sự liên tục của cái bây giờ. Quá khứ chỉ là một ký ức không đáng tin cậu còn neo lại cho tới hiện tại. Tương lai chỉ là sự phóng chiếu về những quan niệm hiện tại của chúng ta. Hiện tại bản thân nó biến mất ngay khi chúng ta cố KIM CƯƠNG THỪA THỰC HÀNH

Thực hành thiền Đại toàn thiện trong cuộc sống hằng ngày chỉ đơn giản là phát triển một sự chấp nhận hoàn toàn và thảnh thơi, một sự rộng mở không giới hạn trước mọi hoàn cảnh.

Chúng ta nên nhận ra sự rộng mở này như là một sân chơi của những cảm xúc của chúng ta và quan hệ với mọi người mà không có sự giả tạo, cố gắng điều khiển hay sắp đặt kế hoạch.

Chúng ta nên trải nghiệm mọi điều một cách toàn thể, không bao giờ rút lui vào trong bản thân chúng ta như một con chồn giấu mình trong hố của nó. Sự thực hành này giải phóng vô vàn năng lượng vốn thường bị bó hẹp lại bởi tiến trình cố gắng duy trì những điểm quy chiếu cố định. Sự liên hệ quy chiếu là quá trình chúng ta rút khỏi kinh nghiệm trực tiếp trong cuộc sống hằng ngày.

Có mặt trong thời khắc hiện tại có thể ban đầu gây ra sự sợ hãi. Tuy nhiên, bằng việc đón chào những cảm xúc sợ hãi cùng với toàn thể sự rộng mở, chúng ta vượt qua những chướng ngại được tạo nên bởi những khuôn mẫu cảm xúc theo thói quen.

Khi chúng ta dấn mình vào thực hành khám phá không gian, chúng ta nên phát triển cảm giác mở rộng hoàn toàn chính chúng ta tới toàn thể vũ trụ. Chúng ta nên mở rộng bản thân chúng ta bằng sự đơn giản và trần trụi tuyệt đối của tâm. Đó là cách thực hành mạnh mẽ và thường xuyên để gỡ bỏ mặt nạ của sự tự bảo vệ.

Trong sự tham thiền của mình, chúng ta không nên phân tách giữa nhận thức và đối tượng của sự nhận thức. Chúng ta không nên giống như con mèo đang rình chuột. Chúng ta nên nhận ra rằng mục tiêu của tham thiền chẳng phải “đi sâu vào bản thể” của chúng ta hay rút lui khỏi thế giới. Sự hành trì nên được tự do và phi khái niệm, không bị gò bó bởi sự tự quán tâm hay sự tập trung.

Không gian của trí tuệ bao la, không có khởi thủy và tự sáng tỏ này là nền tảng của hiện hữu – sự khởi đầu và sự kết thúc của mọi hỗn độn. Sự hiện diện của tính giác trong trạng thái nguyên thủy không thiên vị đối với giác ngộ hay không giác ngộ. Nền tảng của hiện hữu này, vốn được biết đến như tâm bổn nguyên hay thanh tịnh, là cội nguồn mà từ đó mọi hiện tượng xuất hiện. Nó được biết đến như là mẹ vĩ đại, như thai tạng của mọi tiềm năng mà trong đó, mọi thứ khởi sinh và tan biến trong trạng thái tự hoàn thiện và tuyệt đối tự nhiên.

Mọi khía cạnh của hiện tượng là hoàn toàn trong sáng và rõ ràng. Toàn thể vũ trụ là rộng mở không chướng ngại – mọi thứ thâm nhập lẫn nhau.

Nhìn mọi thứ trần trụi, rõ ràng và tự do khỏi những che ám, không có gì để đạt được hay chứng ngộ. Bản tính của hiện tượng xuất hiện một cách tự nhiên và thể hiện tự nhiên trong sự tính giác phi thời gian. Mọi thứ hoàn hảo như nó vốn là. Mọi hiện tượng xuất hiện trong sự duy nhất của chúng như là một phần của một nhịp điệu luôn thay đổi. Những nhịp điệu này sống động với ý nghĩa và tầm quan trọng tại mỗi thời khắc; tuy nhiên không có ý nghĩa gì nếu bám chấp vào những ý nghĩa đó ngoài thời khắc mà chúng thể hiện chính mình.

Đây là vũ điệu của năm đại mà trong đó vật chất là biểu hiện của năng lượng và năng lượng là biểu hiện của tính không. Chúng ta là biểu hiện cho sự giác ngộ của chính chúng ta. Bằng sự không cố gắng hay thực tập bất cứ điều gì, sự giải thoát hay giác ngộ đã có mặt ở đó rồi.

Hành trì thiền Đại toàn thiện mỗi ngày chỉ là bản thân cuộc sống mỗi ngày. Bởi trạng thái kém phát triển không tồn tại, do đó không cần thiết phải hành xử theo bất kỳ một cách đặc biệt nào hay cố gắng để đạt được bất kỳ điều gì ở trên hay ở dưới điều mà chúng ta đang là. Không nên có cảm giác phấn đấu để đạt tới một “mục tiêu tuyệt vời” hay một “trạng thái cao cấp” nào đó.

Cố phấn đấu đạt tới một trạng thái như vậy là một chứng loạn thần kinh, nó chỉ điều kiện hóa chúng ta và phục vụ cho việc làm chướng ngại dòng chảy tự do của Tâm. Chúng ta cũng nên tránh việc nghĩ về bản thân của chúng ta như những người không có giá trị – chúng ta vốn tự do và không điều kiện. Chúng ta về thực chất đã giác ngộ và chẳng thiếu điều gì.

Khi dấn mình vào tham thiền, chúng ta nên cảm thấy nó tự nhiên như ăn, thở và đi vệ sinh. Việc đó không nên trở thành một sự kiện đặc biệt hay theo nghi thức, bị thổi phồng lên bởi sự hệ trọng và trang nghiêm. Chúng ta nên hiểu rằng thiền vượt hơn khỏi nỗ lực, thực hành, mục đích, mục tiêu và tính nhị nguyên của giải thoát và không giải thoát. Thiền luôn lý tưởng; không cần thiết phải sửa chữa bất cứ điều gì. Bởi bất cứ điều gì khởi lên đơn thuần chỉ là trò chơi của tâm thức như vậy, không có thiền không đạt yêu cầu và không cần thiết phải đánh giá những niệm tưởng là tốt hay xấu.

Do đó, chúng ta nên đơn giản chỉ cần ngồi. Đơn giản là ở lại tại vị trí riêng của bạn, trong điều kiện riêng của bạn đúng như nó vốn là. Hãy quên những cảm xúc tự ý thức, chúng ta không cần phải nghĩ “tôi đang thiền đây.” Sự hành trì của chúng ta nên phi nỗ lực, không căng thẳng, không cần cố gắng để kiểm soát hay gượng ép và không cần cố gắng để trở nên “an lạc”.

Nếu chúng ta nhận ra rằng chúng ta đang làm phiền chính bản thân mình bằng bất kỳ cách nào trong những cách trên, chúng ta dừng thiền và đơn giản là nghỉ ngơi, thư giãn một lúc. Sau đó, chúng ta lại tiếp tục hành thiền. Nếu chúng ta có “những trải nghiệm thú vị” trong hay sau lúc hành thiền, chúng ta nên tránh làm chúng trở nên đặc biệt. Dành thời gian nghĩ về những kinh nghiệm chỉ đơn giản là một sự phân tâm và một sự cố gắng để trở nên mất tự nhiên. Những kinh nghiệm này đơn thuần là dấu hiệu của sự thực hành và nên được coi là những sự kiện thoáng qua. Chúng ta không nên cố gắng trải nghiệm lại chúng bởi như vậy chỉ làm sai lệch sự tự phát tự nhiên của tâm thức.

Mọi hiện tượng đều tươi mới một cách hoàn hảo, duy nhất tuyệt đối và hoàn toàn tự do khỏi tất cả những khái niệm về quá khứ, hiện tại và tương lai. Chúng được kinh nghiệm trong sự không có thời gian.

Dòng tương tục của sự khám phá mới, sự phát lộ và nguồn cảm hứng phát sinh tại mọi thời khắc chính là sự biểu hiện của sự sáng tỏ của chúng ta. Chúng ta nên học để thấy cuộc sống mỗi ngày như một mạn đà la – những viền tua sáng tỏ của kinh nghiệm, tỏa ra một cách tự nhiên từ bản tính rỗng không của bản thể chúng ta. Những khía cạnh của mạn đà la của chúng ta là các đối tượng hằng ngày trong kinh nghiệm sống của mình chuyển động trong điệu vũ hay trò chơi của vũ trụ. Bằng hình ảnh tượng trưng này, người thầy nội tại phát lộ ý nghĩa sâu sắc và tối hậu của bản thể. Do đó, chúng ta nên tự nhiên và không gò bó, chấp nhận và học từ mọi điều. Điều này cho phép chúng ta nhìn thấy mặt hài hước và mỉa mai của các sự kiện mà thông thường sẽ khiến chúng ta nổi cáu.

Trong thiền, chúng ta có thể nhìn xuyên qua những ảo tưởng về quá khứ, hiện tại và tương lai – kinh nghiệm của chúng ta trở thành sự liên tục của cái bây giờ. Quá khứ chỉ là một ký ức không đáng tin cậu còn neo lại cho tới hiện tại. Tương lai chỉ là sự phóng chiếu về những quan niệm hiện tại của chúng ta. Hiện tại bản thân nó biến mất ngay khi chúng ta cố nắm bắt nó. Do đó, tại sao lại phải bận tâm với sự cố gắng thiết lập một ảo ảnh về nền tảng vững chắc?

Chúng ta nên tự giải thoát mình khỏi những ký ức về quá khứ và những định kiến về thiền. Mỗi thời khắc thiền đều duy nhất hoàn toàn và đầy tiềm năng. Trong những thời khắc này, chúng ta không thể đánh giá sự hành thiền của chúng ta theo kinh nghiệm quá khứ, lý thuyết khô cứng hay những lời khoa trương rỗng tuếch.

Đơn giản là dấn mình trực tiếp vào thiền trong thời khắc hiện tại này, với toàn thể hiện hữu của chúng ta, thoát khỏi do dự, chán ngán hay phấn khích, đó chính là giác ngộ.

Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche

Việt ngữ Bảo Châunắm bắt nó. Do đó, tại sao lại phải bận tâm với sự cố gắng thiết lập một ảo ảnh về nền tảng vững chắc?

Chúng ta nên tự giải thoát mình khỏi những ký ức về quá khứ và những định kiến về thiền. Mỗi thời khắc thiền đều duy nhất hoàn toàn và đầy tiềm năng. Trong những thời khắc này, chúng ta không thể đánh giá sự hành thiền của chúng ta theo kinh nghiệm quá khứ, lý thuyết khô cứng hay những lời khoa trương rỗng tuếch.

Đơn giản là dấn mình trực tiếp vào thiền trong thời khắc hiện tại này, với toàn thể hiện hữu của chúng ta, thoát khỏi do dự, chán ngán hay phấn khích, đó chính là giác ngộ.

Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche

Việt ngữ Bảo Châuề sự hợp nhất của Đại Ấn và Đại Toàn Thiện”

Tác giả: Karma Chagmé với bình giảng của Gyattrul Rinpoche.

B. Allan Wallace chuyển ngữ sang tiếng Anh.

Hoàng Lan dịch từ bản tiếng Anh sang tiếng Việt.

NXB. Thiện Tri Thức, 2020.

Photo: Tashi Mannox.

 giảng của Gyattrul Rinpoche.

B. Allan Wallace chuyển ngữ sang tiếng Anh.

Hoàng Lan dịch từ bản tiếng Anh sang tiếng Việt.

NXB. Thiện Tri Thức, 2020.

Photo: Tashi Mannox.


Nhận xét